Feedback Type Question
Ease of Use Excellent
Layout and Presentation Good
Content Good
Usefulness Excellent
How did you hear about this site? Word of month
Overall Rating 2
Provide e-mail nam@gmail.com
What do you like the most?
bệnh mồng gà là gì?

I. Mụn cóc sinh dục là gì?

bệnh mào gà sinh dục là một bệnh lây lan qua những đường tình dục thường bắt gặp, bệnh vì Human papilloma vi khuẩn (HPV) gây. Phần lớn người lây nhiễm HPV chưa có triệu chứng lâm sàng, số trường hợp có biểu hiện chỉ khoảng 1-2%.

II. Chẩn đoán bệnh mụn cóc sinh dục

a) Lâm sàng

- tổn thương xuất hiện ở vị trí mắc sang chấn khi "làm chuyện ấy" tình dục, có khả năng đơn độc hay thường có không ít thương tổn (khoảng 5-15), đường kính tổn thương từ 1-10mm. Những thương tổn có thể kết truy cập nhau thành đám rất lớn, tuyệt nhiên thường thấy ở người bị suy giảm miễn dịch cũng như tiểu đường.

- thường không có triệu chứng cơ năng. Những có thể ngứa ngáy, cảm giác rát buốt, cảm giác đau hay xuất huyết

- khu vực thương tổn phổ biến tại nam giới là dương vật, vành qui đầu, hãm dương vật, mặt trong bao qui đầu, bìu. Ở nữ, thương tổn tại hãm môi âm đạo, môi bé, môi lớn, âm vật, lỗ niệu, chỗ đáy chậu, hậu môn trực tràng, tiền đình "cô bé", âm môn, màng trinh, âm đạo cùng với mặt phía ngoài cổ tử cung. Sùi mào gà có thể thấy tại bẹn, chỗ đáy chậu cùng với hậu môn trực tràng. Lỗ niệu đạo bị tổn thương tại nam gặp tầm khoảng 20-25% cũng như tại chị em là 4-8%. Hậu môn trực tràng thường ít gặp hơn.

- Màu sắc của mụn cóc sinh dục không sừng hoá có màu hồng tươi, đỏ, lúc mắc sừng hoá có màu xám trắng và một số thương tổn bị nhiễm sắc có màu tro xám, nâu đen. Tổn thương sùi không có xu hướng lây nhiễm sắc song một số tổn thương nhiễm sắc có khả năng thấy tại môi lớn, thân "cậu nhỏ", mu, bẹn, đáy chậu và hậu môn trực tràng

- bệnh mụn cóc sinh dục còn có thể thấy tại môi, họng, cổ họng và hay kèm theo một số tổn thương chỗ sinh dục-hậu môn trên người có tiền sử tình dục việc quan hệ miệng.

xem thêm:
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/sui-mao-ga-kieng-quan-he-bao-lau?_33_
https://www.om.acm.gov.pt/web/hellobacsi123/home/-/blogs/tim-hieu-ve-phuong-phap-ot-sui-mao-ga?_33_
https://www.idiger.gov.co/web/suckhoehanoi/home/-/blogs/sui-mao-ga-nhe-co-tu-khoi-uoc-khong-?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/phuong-phap-chua-benh-sui-mao-ga-tai-nha-hieu-qua?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/sui-mao-ga-co-tu-khoi-tu-rung-khong-?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/sui-mao-ga-o-luoi-nguyen-nhan-dau-hieu-va-cach-chua?_33_
https://www.om.acm.gov.pt/web/hellobacsi123/home/-/blogs/sui-mao-ga-o-cho-kin-chi-em-can-phai-khien-cho-sao-?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/phan-biet-sui-mao-ga-o-mieng-voi-benh-nhiet-mieng?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/chua-benh-sui-mao-ga-khong-tai-phat-lai-phuong-phap-ala-pdt?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/benh-lau-o-nam-gioi-bieu-hien-nguyen-nhan-va-cach-chua?_33_
http://www307.regione.toscana.it/web/hellobacsi12/home/-/blogs/-chi-tiet-bang-gia-xet-nghiem-benh-giang-mai-het-bao-nhieu-tien-?_33_
b) Cận lâm sàng

- Soi lỗ sáo

- Soi hậu môn: khi có bệnh sùi mào gà tại vùng hố chậu cùng với quanh hậu môn trực tràng, tầm 1/3 có thể có thương tổn trong hậu môn trực tràng.

- Test axit axêtic: bôi axít axêtic 5%, sau vài phút thương tổn có màu xám trắng. Kết trái của test này giúp cho sinh thiết cùng với thủ thuật xóa bỏ tổn thương. Nhưng, test này không đặc hiệu cũng như không dùng trong mục đích sàng lọc.

- Mô bệnh học: cần phải khiến với một số tình huống không đặc trưng để chẩn đoán phân biệt hoặc khi nghi ngờ về tính chất lành tính của những tổn thương sẩn và dát như nghi ngờ sẩn loại Bowen, bệnh Bowen hay condyloma khổng lồ.

III. Chữa

a) nguyên tắc chung

- xét nghiệm nhận biết HPV cũng như định chủng.

- nên khám nghiệm những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục không giống.

- xét nghiệm cũng như điều trị đối tác.

b) trị cụ thể

- vấn đề chọn cách chữa trị nhất thiết suy nghĩ thật kỹ về tuổi người bị bệnh, vị trí thương tổn, lượng, kích thước thương tổn cùng với chức năng trình độ cùng với thiết bị máy móc của cơ sở chữa.

- các thuốc trị được phân thành hai loại:

+ người bệnh tự bôi:

- Podophylotoxin 0,5% kiểu dung dịch hoặc kem. Xoa hôm 2 lần với tăm bông, xoa 3 ngày hàng ngày Sau đó nghỉ 4 hôm, điều trị một đợt 4 tuần.

- Kem imiquimod 5% kích ứng tạo ra interferon và một số cytokin. Người bệnh xoa bằng tay 3 lần/tuần, đến 16 tuần. Sau khi xoa 6-10 giờ cần phải rửa bằng nước cũng như xà phòng nhẹ.

- Hai loại thuốc này không sử dụng thoa tổn thương ở quanh hậu môn trực tràng, trực tràng, lỗ sáo, âm hộ và cổ dạ con. Không sử dụng cho phái đẹp mang thai.

+ trị tại địa điểm y tế:

- xoa podophyllin, dung dịch 10-25% trong cồn ethanol hay cồn benzoin. Xoa để khô, rửa sạch sau tầm 1-4 giờ. Thoa 1-2 lần/tuần, trong 6 tuần. 1 Lần xoa tối đa 0,5 ml hay trên một diện tích tổn thương <10 cm2 cho 1 lần chữa để tránh độc đặc tính của thuốc như khiến kìm chế tủy xương. Không lấy cho phụ nữ mang bầu, cho con bú.

- Trichloroacetic (TCA) hoặc bichloroacetic (BCA) 80-90% được dùng thoa một số thương tổn nhỏ, ẩm ướt. Thầy thuốc xoa cho người bệnh hàng tuần, trong tối đa 6 tuần. Nhất thiết cẩn thận khi thoa để tránh tổn hại khu vực da-niêm mạc lành. Dùng bicarbonnat hay vaselin bôi xung quanh thương tổn để bảo vệ chỗ da xung quanh

- các giải pháp chữa trị khác bao gồm nạo tổn thương, phẫu thuật cắt bỏ thương tổn, phẫu thuật điện, laser, tiêm interferon hoặc 5-fluorouracin. Một số tiểu phẫu dễ thực hiện với dao, kéo hoặc laser CO2, đốt điện nhất thiết dẫn tới tê. Cách này chỉ dẫn cho những thương tổn lớn, cho chị em mang thai. Đốt điện chống chỉ dẫn cho bệnh nhân mắc máy tạo nhịp tim, tổn thương tại gần hậu môn trực tràng.

- chữa lạnh làm cho phá hủy thương tổn bệnh cùng với một vùng nhỏ tổ chức cận kề cần được chỉ định cho các thương tổn nhỏ. Trị mỗi tuần 1-2 lần trong 4- 6 tuần. Dùng đầu áp lạnh hoặc phun nitơ lỏng truy cập tổn thương. Có thể nên gây tê bởi vì chữa lạnh dẫn tới cảm giác đau. Hiệu quả chữa trị cũng như quá trình an toàn phụ thuộc vào kỹ lưỡng năng và kinh nghiệm của thầy thuốc.

- Tiêm interferon hoặc 5-fluorouracin/cấy epinephrine gel có hữu hiệu trong điều trị các thương tổn nhỏ và ít. Tuy vậy, có những phản ứng phụ và chi phí tốn kém.
What do you like the least?
 
If you would like to be contacted please provide e-mail: Yes